Trong bối cảnh nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đang đối mặt với những khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, đặc biệt là chăm sóc dinh dưỡng cho phụ nữ và trẻ em, mô hình y tế lưu động và tư vấn dinh dưỡng cộng đồng đang nổi lên như một giải pháp thiết thực và hiệu quả. Mô hình này không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách chăm sóc sức khỏe tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà còn đặc biệt tập trung vào nhóm phụ nữ mang thai và bà mẹ nuôi con nhỏ.
Khoảng cách địa lý, thiếu nhân lực, phương tiện, cùng với rào cản ngôn ngữ đã khiến việc tiếp cận dịch vụ y tế trở nên khó khăn đối với người dân tại nhiều xã vùng sâu, vùng xa. Để giải quyết vấn đề này, nhiều địa phương đã triển khai mô hình y tế lưu động và tư vấn dinh dưỡng tại chỗ, trực tiếp tại thôn bản. Mô hình này cho phép cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp đến người dân, bao gồm việc cấp phát viên sắt, hướng dẫn thực hành bữa ăn dinh dưỡng, cân đo đánh giá thể trạng định kỳ, và tư vấn chăm sóc thai sản tận nơi cho các bà mẹ.
Theo TS.BS Huỳnh Nam Phương, Trưởng Phòng Quản lý Khoa học – Viện Dinh dưỡng, ngành Y tế và chính quyền địa phương đã triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc dinh dưỡng cho phụ nữ và trẻ em vùng dân tộc thiểu số. Các hoạt động này bao gồm việc bổ sung viên sắt/axit folic định kỳ hoặc viên đa vi chất cho phụ nữ mang thai và sau sinh tại tuyến xã, tư vấn dinh dưỡng, chăm sóc thai kỳ, nuôi con bằng sữa mẹ thông qua mạng lưới cán bộ y tế thôn bản.
Mô hình chăm sóc dinh dưỡng trong 1000 ngày đầu đời được áp dụng tại nhiều xã vùng III trong khuôn khổ của Dự án 7 Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo mô hình chuẩn. Đến năm 2025, sau 3 năm triển khai, đã có 687 xã có mô hình đạt chuẩn trên tổng số 1354 xã vùng III toàn quốc. Một số địa phương còn phối hợp với tổ chức quốc tế như Tầm nhìn thế giới, Save the Children thực hiện mô hình ‘Câu lạc bộ dinh dưỡng’, hỗ trợ thay đổi hành vi tích cực.
Tuy nhiên, việc triển khai vẫn gặp phải không ít khó khăn về nguồn lực, nhận thức cộng đồng và tính bền vững. Cán bộ y tế thôn bản giữ vai trò nòng cốt trong mô hình này, họ là người đồng bào, hiểu ngôn ngữ, nếp sống và tập quán nên dễ dàng truyền đạt kiến thức dinh dưỡng và tư vấn sức khỏe một cách gần gũi, hiệu quả hơn.
Bên cạnh các dịch vụ y tế trực tiếp, một trong những yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả chăm sóc dinh dưỡng là truyền thông thay đổi hành vi. Việc lồng ghép truyền thông về dinh dưỡng vào sinh hoạt cộng đồng là cách làm đang được một số tỉnh vùng cao triển khai hiệu quả. Chẳng hạn, tại các buổi họp bản, hội phụ nữ hoặc phiên chợ vùng cao, cán bộ y tế có thể phát tài liệu hướng dẫn, kể chuyện dinh dưỡng bằng tiếng dân tộc, tổ chức trò chơi kiến thức để giúp người dân dễ nhớ, dễ làm theo.
Dù còn nhiều thách thức, mô hình y tế lưu động và tư vấn dinh dưỡng tại bản đang chứng minh tính phù hợp với địa bàn vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Việc đầu tư thêm nguồn lực, trang thiết bị di động và chính sách hỗ trợ cho cán bộ y tế thôn bản sẽ là yếu tố then chốt để mô hình này lan rộng, tạo nền tảng vững chắc cho chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em vùng dân tộc thiểu số.